Tiêu Sơn Tráng Sĩ

Chương 33: Kiến Xuyên Hầu


Kiến Xuyên hầu băn khoăn sốt ruột đã một tháng ròng. Nhưng hôm ấy hầu

càng băn khoăn sốt ruột hơn, đến nỗi hầu lo rằng đã xảy ra tai nạn cho vợ chồng

và con gái đi chơi vãn cảnh chùa. âu đó cũng là sự liên lạc của lulung tâm hồn

cùng một huyết thống, hay nói theo cổ nhân, có tâm linh báo cho ta biết mọi sự

can hệ đến những người thân yêu Ở nơi xa vắng.

Hầu lấy bộ Đường thi ra đọc cho quên nỗi buồn vơ vẩn, nhưng không sao bình

tĩnh mà hiểu được cái hay của những bài thơ cổ.

Đọc được vài trang, hầu lại xếp sách vào ngăn tủ, đứng dậy ra vườn cảnh

ngắm hoa.

Sau dẫy lan can xây theo hình chữ thọ triện, những bông hoa phù dung kép và

đơn về chiều đã ngả màu thắm lại, từ màu hồng phớt cho đến màu đỏ xẩm. Trong

lòng phiền muộn, hầu nhìn màu hoa như có nhuốm máu đào. Dưới dàn thiên lý lá

xanh già rủ qua những mắt cáo của phên nứa, mấy hàng chậu sứ men lam và hàng

thống Bát Tràng màu đen, đặt trên những bộ đôn cùng một kiểu. Trong chậu, trông

thống trồng các thứ cây uốn thành hình con giống: nào cây dành dành, uốn kiểu

"lão bạng sinh câư', cây đơn kiểu "phượng hoàng vu phi", nào cây nẻ, kiểu "hạc

qui quá hải", cây sanh kiểu "hạc lập kê quần". Những cây cảnh ấy cùng hòn núi

giả bày trong cái bể cạn lớn đều do chính tay hầu đã sửa nắn và xếp nên. Vì thế,

nên ngày hai buổi, sáng chiều, hầu ra ngắm nghía không bao giờ chán mắt, mỗi lúc

lại tìm ra cái đẹp thanh thú, mới mẻ của nó. Nhưng hôm nay hầu chẳng buồn ngắm

tới vật gì hết, đi trong vườn cảnh mà trí để cả Ở đâu đâu.

Sang đầu giờ Dậu có tin báo thuyền phu nhân và tiểu thư đã về. Rồi lại tiếp

luôn có tên người nhà về bẩm với hầu rằng thuyền phu nhân cùng hai chiếc thuyền

nữa đã đậu Ở bến. Hầu giật mình kinh hoảng hỏi dồn:

- Với hai chiếc thuyền nữa? Trên thuyền ấy có những ai?

Chỉ một lát sau, tiến khóc đã ầm ĩ từ cổng đưa vào. Rồi Long CƠ vận đại tang

đến trước mặt hầu xụp xuống lạy và nức nở:

- Trình cụ lớn, quan lớn con thất lộc rồi.

Kiến Xuyên hầu mặt tái dần, phải vịn vào cột dàn hoa cho khỏi ngã. Nhưng

trấn tĩnh ngay được và ôn tồn hỏi Long Cơ:

- Chồng con... thất lộc?

- Dạ.

Hầu thở dài, tháo mục kính ra lau:

- Thảo nào một tháng nay thấy sốt ruột quá.

Rồi hầu vào buồng đóng cửa cài then, lên giường ngủ để không ai biết rằng

mình khóc con và khỏi trông thấy gia quyến kêu gào than vãn.

Sáng hôm sau hầu vừa thức giấc, tiếng kinh kệ đã lọt vào tai. Hầu bước ra nhà

ngoài: Trước cái linh cữu phủ vải trắng, một nhà sư trẻ tuổi, ngồi gõ mõ tụng

niệm, Hầu hỏi người nhà:

- Sư ông nghe giọng thanh nhã, chắc không phải người Ở vùng này.

Người nhà đáp:

- Bẩm cụ lớn, sư ông theo linh cữu trấn thủ từ Lạng Sơn về hôm qua.

Kiến Xuyên hầu ngồi xuống tràng kỷ nghe nhà sư tụng niệm.



ít lâu nay hầu rất chăm xem kinh phật và hiểu thấu triết lý cao siêu của một

đạo giáo đã an ủi lòng chán nản của nhà chí sĩ sống vào giữa lúc giao thời.

Hầu thường đi ngao du, tìm đến thăm những nơi danh lam thắng cảnh, rồi Ở

đó, nếu gặp những nhà sư chân tu, cùng họ đàm đạo về ý nghĩa kinh phật.

Một lẽ nữa khiến hầu yêu Phật giáo: Hầu muốn ngấm ngầm, lặng lẽ phản đối

nhà Tây Sơn. Từ ngày vua Nguyễn Huệ xuống sắc chỉ bắt phá hết các chùa nhỏ Ở

các làng, chỉ để lại mỗi hạt một vài ngôi có tiếng, thì hầuBỗng thấy hầu càng yêu

đạo Phật lắm, yêu một đạo giáo hình như đã bị nhà Tây Sơn ruồn ghét.

Phạm Thái cúng Phật xong đứng dậy chắp tay chào Kiến xsuyên, vì chàng đã

biết hầu đợi từ nãy. Kiến Xuyên đáp lễ, rồi mời chàng ngồi.

Nghe một lão quan hỏi đến việc tu hành, đến các kinh bản một cách chu đáo

rành mạch, Phạm Thái lấy làm lo sợ, vì bấy lâu ẩn nấp dưới bóng từ bi, chàng đã

kịp có thì giờ khảo cứu đến sách phật đâu. Chẵng qua, chàng chỉ học thuộc mấy

câu kinh kệ nhì nhằng để ê a che mắt thế gian, cùng là sửa sang cái điệu bộ hiền

lành kính cẩn để ra vẻ một nhà chân tu mà thôi.

Đời chàng là đời hoạt động của một tráng sĩ, mà tu đối với chàng chỉ có nghĩa

là tập luyện tính tình cho khẳng khái, chí khí cho cứng cáp, gân cốt cho mạnh mẽ.

Nát bàn của chàng là trả được thù cho cha, cho vua, cho các bạn đồng chí bị giết.

CÓ một lúc nào tâm trí chàng được thư thái mà xem tới sự tích Phật tổ, mà tìm

hiểu cái nghĩa vu khoát của những chữ: "hư vô, tĩnh tọa".

Nay gặp Kiến Xuyên hầu mà chàng đóan chắc là một người hiểu tinh tường

đạo Phật, nếu chàng không tìm cách giấu cái dốt của mình đi, e chẳng khỏi bị hầu

khinh bỉ. Điều ấy chàng không muốn có, từ khi vụi nẩy một ý tưởng rất kỳ dị trong

tâm trí chàng.

Chàng liền xoay câu truyện từ chỗ đạo giáo ra chỗ văn thơ. Chàng đã được

Thanh Xuyên cho hay tính tình và tư tưởng của cha. Chàng biết rằng Kiến Xuyên

rất chuộng Đường thi và thích thú ngắm hoa vịnh nguyệt. Chàng liền hỏi:

- Bẩm cụ lớn, bần tăng thường được quan trấn đọc cho nghe thi văn của cụ

lớn Thực là lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu.

Kiến Xuyên quên bẵng ngay sự đau đớn, vui cười bảo Phạm Thái:

- Sư ông tính, về trí sĩ như tôi đây thì ngoài cầm, kỳ, thi, tửu ra, còn có cái thú

gì nữa? Nhưng nghe chừng sư ông cũng con nhà nho giáo thì phải.

Phạm Thái biết thế nào Kiến Xuyên cũng hỏi đến gia sự nên đã xếp sẵn câu

truyện từ trước .

- Dạ dám bẩm cụ lớn, nhà bần tăng quả đời đời theo nho giáo. Gặp thời loạn

lạc cha mẹ lại sa sút, nên cho bần tăng xuất gia ăn mày cửa Phật ngay khi mới lên

mười tuổi. Nhờ ơn sư tổ dạy bảo bần tăng cũng biết ít nhiều chữ nghĩa.

Kiến Xuyên mỉm cười, gật gù ngâm nga:

"Vút bút nghiên theo việc đao cung, "

Rồi nói tiếp:

- Tôi chẳng biết sư ông vốn có giòng hào kiệt không, nhưng gặp thời loạn mà

quẳng bút nghiên theo kinh kệ thì hơi tầm thường. Nhưng mỗi người có một



nghiệp riêng theo như kinh Phật, phải không sư ông?

Phạm Thái kính cẩn, vờ khúm núm sợ hãi:

- Dạ, nghiệp của bần tăng là gõ mõ, thắp hương, tụng kinh niệm Phật.

- Còn nghiệp của lão phu là làm thơ, phải không?

Kiến Xuyên cười đau đớn nói tiếp:

- Sư ông là bạn đồng chí của con trai lão phu thì hẳn sư ông cũng biết tài văn

võ của nó đến bậc nào. Lão phu chỉ tiếc giữa việc lớn...

Kiến Xuyên hầu ngừng lại, gọi người nhà pha nước, rồi nói lảng ngay sang

việc khác hình như câu truyện tâm sự không tiện đem ra bàn với một người chưa

quen thân.

Về phần Phạm Thái, chàng cũng rất thận trọng lời nói, giữ gìn ý tứ, vì chàng

biết tâm địa Kiến Xuyên hầu ra sao, chẳng rõ hầu còn trung thành với nhà Lê hay

hầu đã đổi bụng, theo Tây Sơn như nhiều vị quan già khác. Cứ lời Thanh Xuyên

thì đã hai, ba lần Nguyễn Huệ triệu hầu ra tham chính, nhưng hầu lấy nê già yếu

xin Ở nhà dưỡng lão.

CÓ một điều Phạm Thái hơi lấy làm lạ, là Kiến Xuyên hầu có mỗi một con

trai. Nay người con ấy qua đời một cách đột ngột, sao hầu không tỏ lòng thống

khổ, và nét mặt lại giữ được thản nhiên như thế. Há phải hầu không thương con?

Hay hầu đã có cháu nối giõi tông đường rồi, nên hầu không lo ngại nữa. Phạm

Thái muốn dò ý ông qua già, liền hỏi:

- bẩm cụ lớn, quan trấn thủ Thanh Xuyên hầu thực là một người lỗi lạc, thất

lộc đi thì nhân dân thiệt mất một vị minh quan, triều đình thiệt mất một bực lương

tướng Ở chốn biên thuỳ.

Hầu cười nhạt đáp:

- Trời này làm gì có minh quan, lương tướng ? Vả gần bốn mươi chết là vừa

lắm rồi. Sống giai như lão phu chỉ thêm nhục.

Phạm Thái nghe câu trả lời, trong lòng hớn hở mừng thầm, nhưng còn vờ

không hiểu:

- Bẩm cụ lớn, bần tăng thiết tưởng nhà cụ lớn phú quý tột bực, có điều chi mà

cụ lớn phải buồn rầu, phẩn uất. Quan trấn thủ không may qua đời, thì mấy cậu

cháu giai kia sau này làm gì không nối được nghiệp nhà mà quan cao, chức trọng.

Kiến Xuyên vẫn cười nhạt:

- Hừ? nghiệp nhà hừ? hừ quan cao, chức trọng thì làm gì?

Rồi hầu nhìn thẳng vào mặt Phạm Thái:

- CÓ lẽ đi tu như sư ông cũng hay.

Nhà sư nhún nhường:

- Bẩm cụ lớn cũng là một sự bất đắc d~ Bần tăng vẫn biết "vô quân, thần, phụ,

Kiến Xuyên hầu ngắt lời:

- Quân thần nào có ra quân thần? Còn phụ tử... ĐÓ sư ông coi: có hợp thì có

tan, phải rời bỏ người mình yêu.

Hầu nghẹn ngào không nói được dút câu, tiếng khóc nỉ non Ở buồng bên đưa

ra càng làm cho hầu đau đớn. Hầu nâng chén nước, yên lặng mời nhà sư, rồi uống

một hơi cạn như muốn nuốt hết sự thống khổ xuống can tràng.